Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2016

Marketing bằng sự tư duy lãnh đạo


"Marketing tư duy lãnh đạo không phải chỉ là bán sản phẩm, dịch vụ của bạn. Đó còn là nói cho thế giới biết công ty của bạn là uy tín nhất trong thị trường kinh doanh. Đây là chiến lược về việc chia sẻ giá trị chung và trở thành nguồn tin uy tín cho khách hàng", Sabrina chia sẻ.
Marketing bằng tư duy lãnh đạo
Chuyện marketing đồng nghĩa với việc đặt vài bảng quảng cáo rồi thuê copywriter để viết những lời "có cánh" cho thương hiệu đã trôi vào dĩ vãng. Trong thời đại công nghệ thông tin, người tiêu dùng có xu hướng hoài nghi nhiều hơn với các thông điệp tự quảng cáo của doanh nghiệp, và do vậy quảng cáo truyền thông không còn tác dụng nữa. 
Đó là lý do vì sao nhiều doanh nhân bắt đầu hứng thú với chiến lược marketing thông qua việc xây dựng vị thế "lãnh đạo về tư duy" (thought marketing). Đây không chỉ đơn giản là một xu hướng marketing mà còn là triết lý về lý do tồn tại của doanh nghiệp. Điều quan trọng nhất trong chiến lược này là doanh nhân có thể cung cấp cho khách hàng những giá trị của công ty mà không có bất kỳ dấu hiệu nào của sự "tự khoe khoang".
Danielle Sabrina, chuyên gia trong lĩnh vực marketing bằng tư duy lãnh đạo đã chia sẻ với tờ Entrepreneur về 5 điều các doanh nhân nên và không nên làm nếu muốn áp dụng chiến lược này vào kế hoạch marketing của công ty. Đó là:
1. Hãy thể hiện, đừng nói
Điều quan trọng nhất của tư duy lãnh đạo là chứng minh được chuyên môn của bạn. Những danh hiệu, giải thưởng bạn đạt được có thể sẽ tạo vài ấn tượng cho khách hàng, song điều quan trọng hơn là phải cho thấy bạn đã đạt được những danh hiệu đó như thế nào.
Ví dụ, nếu là chuyên gia trong lĩnh vực quảng cáo trên Facebook, đừng chỉ nói về việc bạn hiểu cách quảng cáo trên Facebook như thế nào, hãy viết những bài phân tích sâu những vấn đề cụ thể đang hiển hiện trong thế giới quảng cáo Facebook.
Điều này không chỉ làm cho người đọc hứng thú với những gì họ nhận được từ bài viết của bạn, mà còn khiến họ tin bạn đúng là chuyên gia thông qua những kiến thức chuyên ngành rất cụ thể và hữu ích mà bạn chia sẻ.
2. Cung cấp, đừng quảng bá
Bất kể bạn tiêu tốn bao nhiêu vào các chiến dịch quảng cáo thì cũng đừng bao giờ đánh giá thấp năng lực tiếp nhận của khách hàng đại chúng. Vì họ có thể nhận diện được các thủ thuật quảng cáo vô cùng nhanh nhạy. Đây là lý do vì sao bạn nên tập trung vào việc trở thành một nguồn thông tin có giá trị và đáng tin cậy cho những khách hàng tiềm năng.
Email, kênh mạng xã hội hay trang blog của bạn nên có những kiến thức cụ thể, hữu ích, dễ áp dụng cho bất cứ ai hứng thú đến lĩnh vực bạn đang hoạt động. Điều này sẽ khuyến khích khách hàng quay trở lại trang của bạn, tìm kiếm các thông tin bạn cung cấp và đăng ký để được vào danh sách nhận tin qua email từ bạn.
3. Đi sâu, đừng đi rộng
Phân tích sâu là chìa khóa cốt lõi cho chiến lược marketing này. Trở thành một lãnh đạo về tư tưởng không đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải am hiểu hết mọi khía cạnh trong lĩnh vực bạn đang hoạt động. Điều cần làm là chọn một ngách rõ nét trong lĩnh vực kinh doanh mà bạn am hiểu và có nhiều kinh nghiệm nhất, sau đó tập trung khai thác, phát triển mạnh kiến thức của bản thân về mảng này.
Một bài viết chi tiết, nhiều thông tin, phân tích sâu về một khía cạnh cụ thể của quảng cáo trên Facebook sẽ có giá trị gấp 10 lần một bài viết chung chung chia sẻ về lĩnh vực quảng cáo trực tuyến.
Thay vì tập trung vào sản xuất hàng loạt các bài viết "nông" để duy trì dòng thông tin liên tục với khách hàng, hãy chuyển hướng sang việc cung cấp những bài viết sâu sắc về một vấn đề cụ thể nào đó trên thị trường. Các bài viết sâu sẽ làm tăng lượt thăm trang của bạn và tạo ra sự khác biệt lớn cho nội dung marketing của bạn so với các thông tin nhạt nhòa đồng dạng khác trên thị trường.
4. Phân tích, đừng phỏng đoán
Bạn có thể nghĩ rằng bạn biết người đọc cần thông tin gì, tuy nhiên thực tế sẽ làm bạn hoàn toàn bất ngờ. Thông thường, khi bắt đầu viết bạn sẽ có xu hướng bỏ rơi những gì khách hàng cần và dần chuyển sang viết như đang chia sẻ với các chuyên gia trong ngành. Vì vậy, cần tập trung vào khách hàng của bạn.
Đừng phỏng đoán họ đang nghĩ gì mà hãy ghi chú những gì họ đang bàn tán trên mạng xã hội, những câu hỏi họ đặt ra cho công ty của bạn, phỏng vấn trực tiếp để biết họ đang muốn những thông tin như thế nào. Bên cạnh có thêm ý tưởng cho các bài viết tiếp theo trên trang mạng xã hội của doanh nghiệp, hành động này cũng chứng minh được rằng bạn rất trân trọng và quan tâm đến ý kiến của khách hàng.
5. Tạo ra đối thoại, đừng độc thoại
Thực tế, bạn không phải là người duy nhất hoạt động trong lĩnh vực này. Vì vậy, bạn có thể chủ động kết nối các chuyên gia cùng lĩnh vực hoạt động. Đừng e dè việc chia sẻ quan điểm của họ nếu đó là những ý kiến có ích cho khách hàng của bạn. Cởi mở trong kết nối có thể mở ra cơ hội để bạn thu hút thêm nhiều khách hàng và đối tác tiềm năng. Điều này còn là minh chứng cho thấy bạn luôn cập nhật kịp thời xu hướng thông tin trong lĩnh vực chuyên môn.
"Marketing tư duy lãnh đạo không phải chỉ là bán sản phẩm, dịch vụ của bạn. Đó còn là nói cho thế giới biết công ty của bạn là uy tín nhất trong thị trường kinh doanh. Đây là chiến lược về việc chia sẻ giá trị chung và trở thành nguồn tin uy tín cho khách hàng", Sabrina chia sẻ.
Khi mọi việc hoàn thành, chiến lược marketing này sẽ đưa bạn trở thành chuyên gia uy tín thực thụ với những khách hàng đặt trọn niềm tin vào bạn. Và sau cùng, niềm tin đi cùng tài chính. Chứng minh kỹ năng thôi chưa đủ, vì hiện tại khách hàng cần nhiều hơn nữa, và chia sẻ tầm nhìn lãnh đạo chính là một điều tốt bạn có thể mang đến cho khách hàng của mình.

Các lưu ý khi chọn đối tác tiếp thị kỹ thuật số

Đối với những chiến dịch tiếp thị lớn, cần phải có báo cáo hằng tháng về các chỉ số KPI, các mốc thời gian quan trọng và sự tăng trưởng chung. Còn đối với những chiến dịch nhỏ hơn, sự tương tác giữa công ty digital marketing và DN có thể được thực hiện linh hoạt hơn.
5 lưu ý khi chọn đối tác tiếp thị kỹ thuật số

Trong thời đại mà mọi thứ đều được "đốt nóng" bằng công nghệ, ngân sách của nhiều doanh nghiệp (DN) đang dần được phân bổ nhiều hơn cho việc ứng dụng các công nghệ kỹ thuật số.  
Ứng dụng tiếp thị kỹ thuật số cho phép DN tối đa hóa lượng người tiếp cận thương hiệu, theo dõi những chỉ số KPI (thước đo định lượng kết quả hoạt động) quan trọng và chứng minh được tỷ lệ lợi nhuận ròng so với chi phí đã bỏ ra.
Dù DN có quy mô lớn hay nhỏ, việc chuyển đổi từ cách vận hành truyền thống sang hướng kỹ thuật số là sự đầu tư lớn. Theo Dan Scalco, nhà sáng lập, Giám đốc Phát triển Công ty Tiếp thị kỹ thuật số Digitalux, nếu đang có ý định thuê một công ty tiếp thị kỹ thuật số (digital marketing) để phục vụ cho chiến lược chuyển đổi này, trước khi đặt bút ký hợp đồng, DN cần đặt ra 5 câu hỏi quan trọng sau:
1. Sẽ đo lường những chỉ số KPI nào? Các chỉ số KPI giúp DN thấy được chiến lược tiếp thị hiệu quả đến đâu và cần phải điều chỉnh những gì để nâng cao hiệu quả đã có.
Trong đó, năm chỉ số KPI quan trọng nhất là lượng người truy cập website (Traffic), những nguồn truy cập website (Traffic Sources), số người ghé thăm website được chuyển đổi thành khách hàng tiềm năng (Conversions), chi phí phải trả cho một khách hàng tiềm năng mới (Cost per Lead), doanh thu có được từ việc tạo ra một khách hàng tiềm năng (Revenue per Lead).
2. Có kế hoạch đi đường dài hay không? DN phải tìm hiểu thật kỹ đối tác tương lai, xem họ có đủ kinh nghiệm tiếp thị hay không.
Những công ty còn quá non trẻ sẽ dễ phạm sai lầm, hoặc thiếu sự đầu tư cho chiến lược tiếp thị. Tuy nhiên, những rủi ro đó cũng có thể được chấp nhận nếu họ đòi hỏi một mức phí hợp lý.
Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình tài chính hoặc lựa chọn riêng của từng DN. Điều quan trọng là khi đưa ra quyết định, DN hãy xem tiếp thị kỹ thuật số như một khoản đầu tư đường dài thay vì vung ra một mớ tiền mà thứ nhận lại chỉ là con số ấn tượng về lượng người ghé thăm website.
3. Ai là người kiểm soát tài khoản của DN? Đây có vẻ là câu hỏi ngớ ngẩn, nhưng trên thực tế lại là một trong những câu hỏi quan trọng nhất cần phải có đáp án.
Nhiều công ty digital marketing không trực tiếp thực hiện công việc đã thỏa thuận với DN, họ chỉ tìm kiếm khách hàng rồi sau đó thuê công ty khác làm thay mình. Thuê ngoài một số phần việc có thể giúp tiết kiệm thời gian và tiền bạc nhưng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đối với các chiến dịch tiếp thị trong tương lai.
4. Công ty tiếp thị báo cáo kết quả như thế nào? Đo lường kết quả rất quan trọng đối với bất kỳ chiến dịch tiếp thị nào, đặc biệt là tiếp thị kỹ thuật số, bởi yếu tố "kỹ thuật số” giúp DN rất dễ nhìn thấy sự thành công hoặc thất bại của chiến dịch. Hãy đặt vấn đề với các công ty tiếp thị tiềm năng xem họ sẽ báo cáo kết quả như thế nào và đưa ra những điều DN mong đợi sẽ nhận được trong từng giai đoạn.
Đối với những chiến dịch tiếp thị lớn, cần phải có báo cáo hằng tháng về các chỉ số KPI, các mốc thời gian quan trọng và sự tăng trưởng chung. Còn đối với những chiến dịch nhỏ hơn, sự tương tác giữa công ty digital marketing và DN có thể được thực hiện linh hoạt hơn.
5. Kỳ vọng những gì trong vòng 6 tháng? Nhiều công ty tiếp thị có thể hứa hẹn với DN về hiệu quả trong tương lai. Tuy nhiên, trong trường hợp này, những công ty dám thành thật nói rằng họ không thể cam kết về kết quả lại là những lựa chọn hợp lý hơn. Thay vì nói những điều DN muốn nghe, thông qua từng bước thực hiện chiến lược tiếp thị, họ sẽ cho DN biết sự thật về những gì có thể diễn ra ở cả mặt tích cực lẫn tiêu cực.

Xây dựng một thương hiệu bằng nghi thức


Cũng theo Martin Lindstrom, một khi hành vi của con người được lặp đi lặp lại quá nhiều lần, thì tạo ra một nghi thức gắn với những việc như vậy sẽ khiến khách hàng rất khó “bỏ” và rất khó “quên”. Ông miêu tả nó giống như việc làm đẹp của phụ nữ. Dù khi được Martin hỏi, rất nhiều phụ nữ thừa nhận, việc sử dụng kem chống nhăn, kem tẩy da chết, kem làm mờ vết thâm… thực sự không mang lại nhiều hiệu quả như họ mong đợi. Nhưng bất chấp kết quả, cứ đều đặn vài tháng một lần, những người phụ nữ này lại tìm đến các cửa hàng mỹ phẩm để mang về nhà những loại kem mới nhất hoặc được sản xuất theo công thức tối ưu nhất.
Xây dựng thương hiệu bằng nghi thức
Ngày 6/7 vừa qua, thị trường thương mại điện tử Việt Nam được thông báo chuẩn bị “đón chào” một thành viên mới, đó là Vnexpress cùng cửa hàng Vnexpress Shop.
Với tiềm năng phát triển lớn như hiện nay, thời gian sắp tới, chắc chắn chúng ta sẽ còn được đón chào nhiều thương hiệu nữa gia nhập để làm “cuộc chiến thương mại điện tử” thêm nóng bỏng. Câu hỏi được đặt ra, điều gì sẽ giúp những thương hiệu mới này chiếm được một góc trong tâm trí của khách hàng, khi cứ mỗi ngày trôi qua, hàng chục đối thủ mới lại xuất hiện, hàng trăm ý tưởng mới được tạo ra nhằm dụ dỗ khách hàng quên đi thương hiệu đối thủ?

“Marketing là cuộc chiến của nhận thức, không phải của sản phẩm”, Jack Trout – bậc thầy về định vị thương hiệu, tác giả quyển 12 quy luật bất biến của Marketing đã nói như vậy. Một trong những phương pháp có phần… bí ẩn nhưng vô cùng hiệu quả trong việc “đóng đinh” tâm trí khách hàng vào thương hiệu mà nhiều công ty từng áp dụng rất thành công đó chính là tạo ra nghi thức cho thương hiệu, sản phẩm.
Hãy tưởng tượng bạn đang nằm dài trên bãi biển Tulum (một bãi biển đẹp nổi tiếng tại Mexico) để tự thưởng cho bản thân sau sáu tháng làm việc cực nhọc. Lúc ấy người hướng dẫn viên giới thiệu với bạn về loại bia Corona đặc trưng của Mexico.

Cách uống Corona, được miêu tả, là bạn sẽ phải vắt một chút chanh vào bia, chừng hai đến ba giọt, sau đó lắc đều cho đến khi bọt bia bắt đầu sủi lên và tràn ra ngoài, lúc đó bạn mới được thưởng thức.

Nghi thức uống bia kèm chanh này, thực ra không phải là đặc trưng của văn hóa Mexico, cũng không phải là tập tục của người Maya cổ, hay sử dụng axit trong chanh để ngăn sự phát triển của vi khuẩn, mà chỉ đơn giản là vụ cá cược của một anh chàng pha chế không rõ tên tuổi tại một quán bar vô danh, vào năm 1981, khi anh ta nhét một miếng chanh tươi vào miệng một chai bia Corona để cược với những người bạn thử xem khách hàng khác có bắt chước gọi một chai bia như thế hay không.

Nghi thức này giờ đây trở thành một phần “bất di bất dịch” của Corona trong mọi quảng cáo và chiến dịch truyền thông của họ. Chưa rõ thực sự hương vị của Corona có tăng lên nhờ chanh hay không, nhưng nghi thức này đã giúp Corona hiện đang là một trong năm hãng bia lớn nhất thế giới (giá trị thương hiệu ước tính 5,1 tỉ USD)

Theo Martin Lindstrom, tác giả quyển Buyology, nghi thức được định nghĩa là những hành động, những câu chuyện không phải lúc nào cũng sáng suốt và không phải lúc nào cũng giải thích được một cách rõ ràng hợp lý. Đôi khi, nghi thức tạo ra sự thần bí khiến chúng ta tin vào một điều gì đó là tốt, là đúng đắn, là quy luật hiển nhiên mà quên đi việc suy xét thực tế mối quan hệ nhân – quả mà nghi thức đó mang lại. Chính điều này lại khiến nghi thức tạo ra những tác động vô cùng to lớn đến trí nhớ của con người.

Tại sao dịp tết gia đình nào cũng có bánh chưng, cũng mua sắm quần áo mới? Bởi vì đó là phong tục, là nghi thức, là bản chất và một khi đã là nghi thức, đã là bản chất thì nó hiển nhiên đến nỗi chẳng mấy ai trong chúng ta phản đối và đặt câu hỏi cho những vấn đề đó mà chỉ đơn giản là làm theo.

Ở Nhật, những sinh viên và học sinh cũng có một nghi thức khá kỳ lạ liên quan đến KitKat (loại bánh được sản xuất bởi Nestlé). Bởi cách đọc “Kit Kat” trùng âm với từ “Kitto-Katsu” có nghĩa là “chắc chắn chiến thắng” trong tiếng Nhật, nên sinh viên Nhật cho rằng, ăn KitKat trước khi vào phòng thi sẽ mang lại may mắn cho họ. Nestlé sau đó nghĩ ra cách sản xuất vỏ bánh KitKat màu xanh da trời – màu của hy vọng – và in lên đó dòng chữ “cầu nguyện với Chúa” để khuyến khích thương hiệu này trở thành biểu tượng của sự may mắn ở Nhật. Tính đến năm 2016, sau 43 năm có mặt tại thị trường Nhật, KitKat đã có hơn 300 sản phẩm với mùi vị khác nhau, trở thành thương hiệu đặc trưng của… Nhật Bản.

Nghi thức giúp thương hiệu tạo ra sự khác biệt trong một thế giới ngập tràn quảng cáo của những lời hứa, những câu slogan, những chương trình khuyến mãi, lời cam kết, logo, màu sắc… mà khách hàng phải tiếp nhận hằng ngày.

Cũng theo Martin Lindstrom, một khi hành vi của con người được lặp đi lặp lại quá nhiều lần, thì tạo ra một nghi thức gắn với những việc như vậy sẽ khiến khách hàng rất khó “bỏ” và rất khó “quên”. Ông miêu tả nó giống như việc làm đẹp của phụ nữ. Dù khi được Martin hỏi, rất nhiều phụ nữ thừa nhận, việc sử dụng kem chống nhăn, kem tẩy da chết, kem làm mờ vết thâm… thực sự không mang lại nhiều hiệu quả như họ mong đợi. Nhưng bất chấp kết quả, cứ đều đặn vài tháng một lần, những người phụ nữ này lại tìm đến các cửa hàng mỹ phẩm để mang về nhà những loại kem mới nhất hoặc được sản xuất theo công thức tối ưu nhất.

Oreo đã rất thành công khi tạo ra nghi thức từ việc quan sát những cách ăn bánh khác nhau của khách hàng. Biết được rất nhiều khách hàng của mình có cách ăn bánh như tách đôi chiếc bánh kem, ăn phần kem ở giữa trước rồi mới ăn đến phần vỏ bên ngoài, hay thả bánh vào một cốc sữa rồi mới ăn, Oreo đã tạo ra nghi thức ăn bánh “không thể nào quên” gồm bốn bước: “xoay bánh – nếm kem – chấm sữa – thưởng thức”. Tạo ra nghi thức cho sản phẩm, cũng không phải là điều quá khó…

Chiến lược khi dùng thử sản phẩm mới... chưa cũ

Có nhiều yếu tố thúc đẩy việc dùng thử sản phẩm của người tiêu dùng tại Việt Nam. Thứ nhất là tiện ích. Thứ hai là sản phẩm phù hợp với gia đình và thương hiệu quen thuộc.

Người tiêu dùng Việt Nam rất thích dùng thử sản phẩm mới, đây là yếu tố quan trọng để các nhà sản xuất đầu tư vào chiến lược này. 
Khám phá cái mới
Các nghiên cứu đã cho thấy, người tiêu dùng rất yêu thích những thương hiệu chịu đầu tư vào việc phát triển sản phẩm mới, nhưng không phải cứ liên tục tung ra sản phẩm mới là thành công. Doanh nghiệp cần chọn thời điểm thích hợp và có cách tiếp cận khách hàng, cần tìm hiểu thật kỹ thói quen, sở thích của khách hàng mục tiêu để đưa sản phẩm hoặc dịch vụ mới đến với họ một cách ấn tượng nhất.Chiến lược dùng thử sản phẩm mới... chưa cũ
Theo báo cáo của Nielsen về sáng tạo và đổi mới sản phẩm, Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ người tiêu dùng sẵn sàng dùng thử sản phẩm mới cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Cụ thể, có đến 88% người Việt cho biết đã mua sản phẩm mới trong khi đi mua hàng, cao hơn 19% so với mức trung bình của khu vực (69%).
Chia sẻ về vấn đề này, bà Lê Thị Thanh Lâm, Phó tổng giám đốc Công ty Sài Gòn Food cho biết, với ngành thực phẩm, người tiêu dùng rất thích đổi mới khẩu vị, tiếp cận những sản phẩm tiện dụng, mới lạ. Đó chính là lý do từ khi thành lập đến nay, Sài Gòn Food liên tục đưa ra thị trường các sản phẩm mới. Tính bình quân, mỗi năm Sài Gòn Food đưa ra thị trường 10 sản phẩm mới các loại.
Cùng với việc ra mắt sản phẩm mới, Công ty cũng tổ chức các buổi giới thiệu và mời dùng thử sản phẩm mẫu. Đơn cử như mới đây, khi ra mắt cháo tươi ăn liền, Sài Gòn Food đã phát hàng trăm ngàn sản phẩm mẫu đến 500 trường mẫu giáo.
Không chỉ các nhà sản xuất mà ngay cả các nhà phân phối cũng sử dụng biện pháp này để thu hút và chinh phục khách hàng. Trong lĩnh vực bán lẻ điện máy, điện tử..., Công ty CP Thế Giới Di Động, Viễn Thông A... là những điển hình. Từ mấy năm nay, Thế Giới Di Động đã áp dụng chính sách cho khách hàng dùng thử sản phẩm trong vòng một tháng, nếu có trục trặc về lỗi kỹ thuật sẽ được đổi máy mới (miễn phí).
Máy không bị trục trặc nhưng nếu không thích, khách hàng cũng có thể trả lại (dĩ nhiên là có tính phí). Ngoài ra, có những chương trình dùng thử miễn phí 30 ngày đối với các loại phụ kiện (trừ miếng dán màn hình, ốp lưng, miếng dán Flop cover), đổi mới các sản phẩm trong suốt thời gian bảo hành... Để "thanh lý” số sản phẩm này, Thế Giới Di Động đã mở cửa hàng chuyên bán máy cũ (điện thoại, laptop, tablet...).
Cơ hội từ người tiêu dùng
Các chuyên gia cho rằng, người tiêu dùng hào hứng với việc thử sản phẩm mới đã tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp, nhưng kèm theo đó là không ít thách thức. Đó là doanh nghiệp phải liên tục đầu tư nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo để sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Người làm marketing phải không ngừng sáng tạo, tìm tòi những cách thức mới để tiếp cận khách hàng.
Một trong những cách thức đó là tổ chức cho khách hàng trải nghiệm sản phẩm mới. "Quan trọng hơn, nhà sản xuất cần phải hợp tác chặt chẽ với nhà bán lẻ để đảm bảo có được sự ủng hộ từ họ nhằm giới thiệu sản phẩm mới đến người tiêu dùng" - ông Nguyễn Anh Dũng, Giám đốc Bộ phận Dịch vụ đo lường bán lẻ Nielsen Việt Nam cho biết.
Có nhiều yếu tố thúc đẩy việc dùng thử sản phẩm của người tiêu dùng tại Việt Nam. Thứ nhất là tiện ích. Thứ hai là sản phẩm phù hợp với gia đình và thương hiệu quen thuộc.
Theo một chuyên gia thương hiệu, việc dùng thử sản phẩm mới đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản phẩm. Thông qua việc lấy ý kiến khách hàng, công ty có thể cải tiến và hoàn thiện sản phẩm cũng như tạo ra thêm các sản phẩm mới. Đồng thời, dựa vào kết quả của việc phát hàng mẫu, công ty có thể rút kinh nghiệm cho những chiến dịch tung ra sản phẩm mới tiếp theo.

Cách "giải cứu" sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng

Giao hàng tận nơi, mua sắm trực tuyến thay vì phải đi đến cửa hàng, học qua mạng thay vì phải đến lớp… là những cách được doanh nghiệp sáng tạo ra từ chính nhu cầu ngày càng “lười biếng” của khách hàng.
5 cách "giải cứu" sản phẩm của các thương hiệu nổi tiếng
Tại sao Facebook phải thay đổi thuật toán? Tại sao Apple cứ luôn công bố những sản phẩm iPhone mới hằng năm? Và làm cách nào Coca-Cola, với một hương vị không hề thay đổi trong suốt 130 năm qua (1886-2016) vẫn giữ được vị thế là thương hiệu đồ uống có gas hàng đầu thế giới?
Theo lý thuyết marketing cơ bản, một khi sản phẩm đã lưu thông trên thị trường thì đều phải chịu một quy luật gọi là quy luật vòng đời phát triển (the life-cycle) gồm 4 giai đoạn là giới thiệu, phát triển, chín muồi và suy tàn. Trong môi trường kinh doanh cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, bất cứ sản phẩm nào cũng sẽ phải đối mặt với việc rơi vào giai đoạn “suy tàn” (giai đoạn khi doanh số và lợi nhuận của sản phẩm bắt đầu tụt dốc), thậm chí sớm hơn dự kiến.

Vì vậy, nếu người quản trị và người làm marketing không muốn thương hiệu hay sản phẩm của mình “tàn lụi” như những tấm gương của hãng điện thoại Nokia, của hãng máy ảnh Kodak… thì họ phải có sẵn những giải pháp để “cứu” sản phẩm của mình khỏi cơn hiểm nguy đó.

Dựa vào quan điểm của Philip Kotler và Fernando Trías de Bes đã nêu ra trong quyển Marketing phá cách, dưới đây sẽ là 5 cách đơn giản giúp những doanh nhân giải quyết bài toán “diệt vong” này:

1. Thay đổi kích cỡ
Coca-Cola luôn có kích cỡ chai khác nhau ở mỗi quốc gia mà mình xuất hiện. Ở Nhật Bản, tính đến năm 2012, sản phẩm Coca-Cola hương vị truyền thống trong chai nhựa đã có 10 kích cỡ (300ml, 350ml, 370ml, 500ml, 591ml, 600ml, 1.000ml, 1.250ml, 1.500ml và 2.000ml).
Với một sản phẩm mà mỗi thay đổi trong hương vị có thể dẫn đến thảm họa cho cả doanh nghiệp như Coca-Cola (năm 1985, Coca-Cola cho ra mắt dòng sản phẩm New Coke và thất bại nặng nề, họ đánh mất phần lớn thị phần (chỉ còn 24%) vào tay Pepsi và phải rất khó khăn mới lấy lại được vị thế như ngày nay) thì cách “làm mới” mình an toàn nhất chính là thay đổi kích cỡ sản phẩm và xây dựng chiến lược marketing đều đặn cho thương hiệu.
Việc thay đổi kích cỡ sẽ khiến sản phẩm đáp ứng được những mục đích sử dụng khác nhau của người tiêu dùng và thỏa mãn những phân khúc mới trên thị trường. Ví dụ như những chai Coca-Cola lớn từ 1.000ml – 2.000ml dành cho gia đình, cho hội họp, cho những dịp quây quần người thân, bạn bè, còn những chai nhỏ hơn, từ 300ml – 500ml sử dụng chủ yếu cho cá nhân hoặc cặp đôi.

2. Thay đổi bao bì
Việc thay đổi bao bì từng tạo ra một thành công ngoài sức tưởng tượng cho thương hiệu tương cà Heiz. Bắt đầu hoạt động từ năm 1876, đến năm 1987, sau 111 năm, sản phẩm tương cà của hãng bắt đầu rơi vào khó khăn. Heiz thấy rằng chai thủy tinh dùng để đựng tương cà xưa nay hãng vẫn sản xuất đã không còn được ưa chuộng nữa. Vì vậy hãng thay đổi bao bì của mình, chuyển từ chai thủy tinh sang chai nhựa.
Tuy nhiên, tới năm 2003, Heiz lại bị “nguy hiểm” trở lại. Bằng một quá trình nghiên cứu và khảo sát thị trường nghiêm ngặt, tháng 7/2003, Heiz tung ra mẫu chai tương cà mới, mẫu chai úp ngược (top-down) đầu tiên trên thị trường.
Chỉ trong vòng 12 tháng sau khi ra mắt mẫu bao bì mới, tính riêng thị trường Anh, Heiz đã bán được 7 triệu chai tương cà và mang về 10,8 triệu bảng Anh. Cho đến nay, Heiz được gọi là “thương hiệu định nghĩa dòng sản phẩm nước tương cà của thế giới”.

3. Tiến hành nâng cấp
iPhone là một trong số nhiều sản phẩm công nghệ đã thành công khi sử dụng cách này để kéo dài “vòng đời” cho chính mình. Bằng việc thay đổi cấu trúc ban đầu, nâng cấp tính năng sản phẩm mới, khiến chúng có nhiều chức năng hơn, tối tân hơn, “công nghệ hơn”, Apple đã giúp cho sản phẩm iPhone duy trì được vị thế hàng đầu suốt 9 năm qua (2007-2016), bằng việc đều đặn cho ra mắt các bản nâng cấp, từ iPhone 3, iPhone 4, iPhone 5… đến iPhone 7 sắp tới, bất chấp sự cạnh tranh gay gắt của Samsung, Lenovo…

4. Thành phần "bổ sung"
Tạo ra, nâng cấp hay phát triển những sản phẩm phụ, sản phẩm đi kèm cùng với sản phẩm chính cũng là một cách giúp sản phẩm của doanh nghiệp “sống khỏe”. Chiếc dao cạo râu của Gillette là một ví dụ.
Trong suốt 114 năm phát triển, chiến lược của Gillette luôn tập trung hoàn toàn vào việc phát triển và nâng cấp… lưỡi dao. Bắt đầu chỉ từ những lưỡi thép có độ dày thích hợp để cạo râu cho đến dao cạo ba lưỡi tuyệt đối an toàn như hiện nay.
Gillette bán dao cạo với giá rất rẻ, thậm chí nhiều thời điểm hãng còn tặng miễn phí khách hàng trên 18 tuổi của mình dao cạo râu, bởi lợi nhuận chính và điều làm hãng “trường tồn” đến từ những sản phẩm bổ sung.

5. Ngày càng làm "hư" khách hàng
Giảm thiểu nỗ lực của khách hàng để có được sản phẩm, dịch vụ cũng là một cách duy trì “vòng đời” sản phẩm hiệu quả.

Giao hàng tận nơi, mua sắm trực tuyến thay vì phải đi đến cửa hàng, học qua mạng thay vì phải đến lớp… là những cách được doanh nghiệp sáng tạo ra từ chính nhu cầu ngày càng “lười biếng” của khách hàng.

Mở rộng khu vực hoạt động của doanh nghiệp, đưa sản phẩm đến những thị trường mới, khai phá thị trường tiềm năng… cũng là những cách thường sử dụng để doanh nghiệp có thể “làm hư” khách hàng của mình.

Tên thương hiệu và "sức mạnh vô thức"

Chính vì những liên tưởng vô thức này, các kết quả nghiên cứu thị trường có thể chỉ kể với bạn một nửa câu chuyện. Khi chúng ta thực hiện các cuộc khảo sát, phỏng vấn, khảo sát nhỏ, chúng ta chỉ tập trung vào những phản ứng và lời giải thích có ý thức về sản phẩm và thương hiệu. Dữ liệu này có thể có giá trị nhưng thường thì chúng bỏ qua khía cạnh vô thức cũng rất quan trọng của các thương hiệu.

Khi chúng ta mua một món hàng nào đó, chúng ta thường nghĩ rằng mình biết rõ lý do vì sao chọn món hàng này. Chúng ta luôn có cảm giác kiểm soát được hành động của mình và quyết định mua một món hàng nào đó cũng không phải là ngoại lệ. “Tôi mua sản phẩm mới đó vì nó có tính năng tốt nhất, giá tốt nhất và hình thức đẹp nhất”.
Thế nhưng, theo các nghiên cứu từ góc độ khoa học thần kinh, tâm lý và kinh tế học hành vi thì con người hầu như không hợp lý như chúng ta vẫn nghĩ. Thay vào đó, ta bị thôi thúc bởi những ảnh hưởng vô thức và mơ hồ có nguồn gốc từ “quá khứ xa xôi”.
Thương hiệu và "sức mạnh vô thức"
Trong quyển sách mới phát hành Brand Seduction: How Neuroscience Can Help Marketers Build Memorable Brands (Sức hấp dẫn thương hiệu: Làm cách nào để khoa học thần kinh có thể giúp các nhà tiếp thị xây dựng các thương hiệu đáng nhớ), tác giả Daryl Weber – một nhà tư vấn thương hiệu có ảnh hưởng với một số thương hiệu lớn nhất thế giới đã đào sâu vào thế giới tâm trí của người tiêu dùng. Sau đây là một vài gợi ý mà các nhà khởi nghiệp, chủ doanh nghiệp có thể ứng dụng từ tư duy của Daryl Weber.

1. Mọi thứ mà bạn làm đều là làm thương hiệu
Đối với những ai mới bắt đầu làm quen với việc xây dựng thương hiệu, cần nhận ra rằng thương hiệu của bạn xa, rộng hơn nhiều so với chiếc logo. Theo Weber, một thương hiệu là “tập hợp những liên tưởng trong tâm trí, cả ý thức và vô thức”.
Những liên tưởng có ý thức có thể bao gồm sản phẩm hay dịch vụ của bạn, chức năng của sản phẩm, giá và tên sản phẩm, các mẫu quảng cáo và tiếp thị. Khía cạnh vô thức chính là cảm xúc ẩn bên dưới được kết nối với thương hiệu.
Cảm xúc này được bồi đắp theo thời gian từ tất cả những tương tác mà mọi người có được với thương hiệu của bạn, với nơi mà họ nhìn thấy thương hiệu, với người sử dụng hoặc đại diện cho thương hiệu, với màu sắc và cảm xúc mà tên thương hiệu mang lại. Điều này có nghĩa là mọi khía cạnh của doanh nghiệp mà người tiêu dùng tiếp xúc, từ cách phân phối, bán hàng cho đến văn hóa doanh nghiệp và con người sẽ ảnh hưởng đến trực giác và quyết định vô thức về thương hiệu của bạn.

2. Xây dựng "thế giới tưởng tượng" cho thương hiệu của bạn
Weber miêu tả trực giác vô thức về một thương hiệu giống như “thế giới tưởng tượng” độc đáo của riêng nó. Đó là tập hợp những liên tưởng về thương hiệu hình thành nên một “trực cảm” trong tâm trí người tiêu dùng và có thể ảnh hưởng đến việc họ chọn mua sản phẩm của bạn hay của đối thủ cạnh tranh.
Weber gợi ý nên đào sâu vào cảm xúc, cá tính và thậm chí là “linh hồn” của thương hiệu và sau đó thổi bùng chúng ra thông qua hình ảnh… để định nghĩa “thế giới tưởng tượng” mà bạn muốn người tiêu dùng cảm nhận.

3. Cách bạn nói có thể quan trọng hơn điều bạn nói
Là chủ doanh nghiệp, chúng ta cần phải nói được tại sao sản phẩm và thương hiệu của chúng ta tốt hơn của đối thủ cạnh tranh. Chúng ta chào mời những lợi ích và chức năng của sản phẩm qua kênh tiếp thị và PR. Dĩ nhiên, đây là điều quan trọng nhưng cách chúng ta nói lên thông điệp còn quan trọng hơn.

Trong Brand Seduction, Weber miêu tả cách mà “giọng điệu” và cá tính của tiếp thị tạo nên sự khác biệt lớn về cách nhìn của người tiêu dùng đối với thương hiệu của bạn. Các yếu tố thiết kế như màu sắc, kiểu chữ, nét mặt của một người mẫu, âm nhạc và nhiều yếu tố khác có tác động mạnh đối với cách nhìn về thương hiệu.

Những yếu tố này có thể làm thương hiệu của bạn được cảm nhận là hiện đại hơn, cao cấp hơn, hào nhoáng hơn, ấm áp hơn hay thậm chí là hoài niệm hơn – tất cả phụ thuộc vào ý muốn của bạn. Thậm chí một tờ giấy trắng cũng nói lên điều gì đó. Vì vậy, hãy chắc chắn rằng bạn đang bồi đắp cho thương hiệu của mình bằng những cảm xúc mà bạn muốn qua mọi thông điệp.

4. Đừng nghe theo "lời của người tiêu dùng"
Chính vì những liên tưởng vô thức này, các kết quả nghiên cứu thị trường có thể chỉ kể với bạn một nửa câu chuyện. Khi chúng ta thực hiện các cuộc khảo sát, phỏng vấn, khảo sát nhỏ, chúng ta chỉ tập trung vào những phản ứng và lời giải thích có ý thức về sản phẩm và thương hiệu. Dữ liệu này có thể có giá trị nhưng thường thì chúng bỏ qua khía cạnh vô thức cũng rất quan trọng của các thương hiệu.

Hãy chắc chắn rằng bạn lắng nghe nguồn năng lượng và cảm xúc phía sau lời nói của khách hàng. Hãy quan sát những ẩn ý qua ngôn ngữ cơ thể, giọng điệu cũng như bối cảnh rộng hơn trong cuộc sống của họ để hiểu được tại sao họ đang nói điều đó. Bằng cách này, bạn sẽ có được bức tranh phong phú hơn về cảm xúc thật của khách hàng.

Giải mã về sự thành công của thương hiệu Hermes

Việc Jane Birkin gần đây đe dọa rút tên cô khỏi dòng sản phẩm da cá sấu của chiếc túi Birkin sau những lời cáo buộc rằng một trang trại cung cấp da cho Hermes đã đối xử tệ với động vật cho thấy Công ty phải chịu ơn người đã mang lại “sự tích” cho thương hiệu Birkin, chứ không phải là ngược lại.

Hermes đã chơi trò tâm lý khi để cho người mua chờ đợi nhằm gia tăng sự thèm khát của họ đối với món hàng.Giải mã sự thành công của thương hiệu Hermes
Trên một chuyến bay từ Paris sang London vào năm 1983, Jane Birkin, một diễn viên kiêm nữ ca sĩ người Pháp gốc Anh, đã trút toàn bộ đồ đạc trong chiếc túi xách màu vàng nhạt căng phồng ra, trong đó có cả cuốn nhật ký Hermes của cô. Jean-Louis Dumas, Tổng Giám đốc Hermes vào lúc đó, một cách lịch sự đã nhặt nó lên. Họ đã nói chuyện với nhau về những chiếc túi và Birkin đã phàn nàn về chiếc túi xách tay đi nghỉ cuối tuần không đủ chỗ để đồ của cô.
Dumas, không chỉ có cách cư xử rất tế nhị, khéo léo, mà còn có một cái mũi rất thính đánh hơi được cơ hội. Ông đã thiết kế một chiếc túi xách dành riêng cho Birkin để cô có thể đựng đồ theo ý mình và nay nó đã trở thành chiếc túi xách tay đắt đỏ nhất thế giới, được những người nổi tiếng ưa chuộng.
Hồi tháng 6/2016 vừa qua, nhà đấu giá Christie’s Hong Kong đã bán một chiếc túi da cá sấu Birkin Himalaya, có khóa và nút cài màu vàng sáng được đính kim cương 10 carat với giá lên tới 300.168 USD.

Một lý do cho mức giá quá cao của chiếc túi này (và là lý do Hermes muốn nhấn mạnh) là trình độ thủ công tinh xảo tuyệt vời của nó. Mỗi chiếc Birkin là tác phẩm của chỉ một nghệ nhân; người này mất tới 18 giờ để hoàn tất tác phẩm và mất nhiều hơn thế nếu lớp da cá sấu là loại da mềm và mịn.
Hermes cho biết giá bán được tính dựa trên chi phí làm ra và chi phí này rất cao. Tuy nhiên, công sức bỏ ra nhiều giờ của nghệ nhân và vật liệu chất lượng tốt để làm ra chiếc túi có thể không chiếm bao nhiêu trong mức giá bán: Luca Solca, chuyên gia phân tích cổ phiếu tại Exane BNP Paribas, ước tính giá thành sản xuất của một chiếc Birkin cơ bản chỉ vào khoảng 800 USD.

Ở điểm này, một chuyên gia kinh tế có thể sẽ cổ xúy cho quan điểm của Thorstein Veblen, nhà kinh tế học và xã hội học người Mỹ. Vào năm 1899, Veblen đã đặt ra thuật ngữ “tiêu dùng phô trương” (chỉ một hành vi mà theo đó người ta tiêu dùng để cho mọi người xung quanh thấy mình có một địa vị xã hội nào đó, dù thực sự có địa vị xã hội đó hay không) trong tác phẩm “The Theory of the Leisure Class”. Trong tác phẩm này, Veblen mô tả hành vi tiêu dùng của tầng lớp mới giàu cuối thế kỷ 19 nhờ công nghiệp hóa ở Mỹ.
Một nghệ nhân mất ít nhất 18 giờ đồng hồ để làm ra một sản phẩm túi xách Birkin của Hermes. Ảnh: hautelinving.com
Hàng hóa Veblen đi ngược lại tính hợp lý thông thường của kinh tế học. Đối với hầu hết các loại hàng hóa, nhu cầu giảm khi giá cả tăng lên, còn với hàng hóa Veblen, giá càng cao, nhu cầu càng lớn, bởi giá cả càng đắt, người chủ sở hữu những món đồ đắt tiền đó càng “khoe” được địa vị xã hội của mình. Mức chênh lệch giữa chi phí sản xuất một chiếc túi Birkin và giá bán cho thấy nó rơi vào dạng này.

Tuy nhiên, ở một số phương diện nào đó, Birkin không giống như các hàng hóa Veblen cổ điển. Thứ nhất, Birkin không hoàn toàn “phô trương” như thế. Hầu hết mọi người ai cũng đều có thể nhận ra ngay “lai lịch” của chiếc túi khoác vai Dionysus có 2 chữ G lồng vào nhau, nhưng chỉ một số nhận ra chiếc Birkin. Vì thế, thuyết của Veblen cần phải được “điều chỉnh” đôi chút để lý giải cho quyền lực của những loại hàng hóa không phô trương nhưng rất đắt đỏ như Birkin.

Các tác giả của “Signalling status with luxury goods: the role of brand prominence”, một bài báo xuất hiện trên Journal of Marketing vào năm 2010, đã chia người giàu ra làm 2 nhóm. Một là nhóm nhà giàu mới phất lên. Nhóm này muốn được xếp chung “giai cấp” với những người giàu khác và muốn họ nổi bật, tách biệt hoàn toàn với những người không giàu có. Hai là nhóm “nhà giàu nòi”, tức nhà giàu có dòng dõi từ nhiều đời. Nhóm nhà giàu này muốn tạo sự khác biệt giữa họ với những nhà giàu khác, chứ không phải với số đông dân chúng như ở nhóm nhà giàu mới phất.

Các tác giả cho rằng hàng xa xỉ càng đắt đỏ, nhắm tới đối tượng nhà giàu dòng dõi thì sẽ có mức độ nhận diện thương hiệu thấp hơn so với những hàng hóa có giá ít mắc hơn. Chắc chắn, họ đã nhận ra rằng Gucci và Louis Vuitton đưa ra giá bán cao hơn đối với những túi xách ít phô trương hơn, trong khi Mercedes thì dán các biểu tượng nhận diện hoành tráng hơn trên những dòng xe có giá rẻ hơn. Có những người không thể mua nổi các hàng hóa xa xỉ nhưng muốn họ trông như thể là người chịu chi vào các mặt hàng có thương hiệu nổi tiếng. Đây là đối tượng mà những tay làm hàng nhái, hàng giả nhắm tới, bằng cách nhái các loại hàng hóa có tính phô trương.

Thứ hai, nhà sản xuất các hàng hóa Veblen phải tăng giá cho đến khi chúng đạt dưới một ngưỡng mà ở đó, theo các lý thuyết kinh tế thông thường, chúng khẳng định vị thế của mình. Nhưng Hermes lại có thể đưa ra giá bán cao hơn rất nhiều đối với một túi xách Birkin. Thay vì đánh về yếu tố giá như cách làm thường thấy của thị trường, Hermes chơi trò tâm lý khi cho người mua chờ đợi nhằm gia tăng sự thèm khát của họ đối với món hàng. Bạn không thể cứ mặc nhiên đi vào một cửa hàng hạng sang của Hermes, nghĩ rằng bước khỏi cửa là có thể xách trong tay một chiếc túi nào đấy. Bạn phải đặt hàng và chịu khó ngồi chờ.
Hélène Le Blanc, khi đó là một luật sư làm việc ở Paris, ban đầu bị từ chối khi cô bước vào một cửa hàng cao cấp của Hermes ở Faubourg Saint-Honoré cách đây nhiều năm. Khi thuyết phục người bán hàng rằng cô sẵn sàng chờ hàng về, cô mới được cho xem một tập hồ sơ với nhiều mẫu da và mẫu mã thiết kế để chọn lựa và được cho đặt hàng. Khoảng 2 tháng sau đó, cô nhận được một lá thư đảm bảo, thông báo rằng chiếc túi mà cô đặt đã có.
Florence Paul, chuyên gia tư vấn quan hệ công chúng ở London, thì cho biết một người bạn của cô muốn mua cho mẹ một chiếc Birkin cho sinh nhật lần thứ 60 của bà, nhưng mãi đến sinh nhật 61, món hàng mới có. Đó là lý do vì sao Birkin có được sự “sang chảnh” mà chiếc túi Chanel 2.55 đắt đỏ nhưng luôn sẵn hàng lại không có được.

Vậy tại sao Hermes lại khiến cho thị trường “đói” những chiếc túi Birkin trong khi hãng hoàn toàn có thể bán ra số lượng nhiều hơn và kiếm được nhiều tiền hơn? Hermes cho biết vấn đề nằm ở việc có tìm được da chất lượng tốt hay không và cả những nghệ nhân đủ tầm để làm ra sản phẩm.
Bộ phận sản phẩm da của Hermes thuê 200 nghệ nhân mỗi năm và mất 2 năm để đào tạo họ. Giới hạn về số lượng túi xách được làm ra vì thế là điều rất tự nhiên. Hermes cho rằng Birkin phải được đào lên, giống như đào vàng, chứ không phải cứ sản xuất ra là được.

Nhưng như Solca quan sát, có nhiều lý do ở góc độ thương mại có thể giải thích vì sao Hermes để cho khách hàng phải xếp hàng chầu chực chờ mua, thay vì đánh ở yếu tố giá. Đầu tiên, nó tạo cho Hermes một lớp đệm an toàn: cho dù nhu cầu có giảm đi nữa, doanh số bán cũng sẽ không giảm. Thứ hai, nó tạo ra nhu cầu dư thừa cho những chiếc túi, mà tạo hiệu ứng lan tỏa sang cả nhu cầu đối với các sản phẩm khác của Công ty. Như J.N. Kapferer, chuyên gia tư vấn tại Viện Hàng xa xỉ Inseec ở Paris, nhận xét: ”Việc chờ đợi thúc giục những người mua nôn nóng chuyển sang mua các sản phẩm khác của thương hiệu này, để xoa dịu bớt cơn thèm khát của họ cho đến khi món hàng mà họ trông chờ từ lâu được giao tới”.

Thứ ba, mặc dù mức giá cân bằng (tức mức giá của một hàng hóa/dịch vụ vào thời điểm lượng cung của nhà sản xuất bằng với lượng cầu của người tiêu dùng) có thể làm gia tăng tính sinh lời trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn chúng có thể khiến cho những khách hàng giàu có ở các nước phát triển chán ngán; cuối cùng nhà sản xuất phải trông cậy vào những người mua chính là tầng lớp nhà giàu mới phất ở các nước đang phát triển. Nhưng làm sao để cân bằng giữa số lượng bán ra ít ở mức độ vừa phải đủ để nuôi dưỡng “cơn đói” của khách hàng, cũng vừa đủ để giữ tính “sang chảnh” của thương hiệu? Đó là cả một nghệ thuật.

Solca ước tính Hermes sản xuất ra 70.000 chiếc túi Birkin mỗi năm. Nếu nói tính độc quyền là hệ quả tất nhiên của sự khan hiếm (về lượng hàng sản xuất ra) thì Birkin sẽ thua cuộc trước một số đối thủ. Delvaux, một hãng xa xỉ Bỉ được thành lập vào năm 1829 (ra đời trước Hermes 8 năm) chỉ sản xuất 60.000 sản phẩm mỗi năm và tuyên bố không thua kém gì Hermes về chất lượng. Nhưng những chiếc túi xách Brillant và Tempête của Delvaux lại rẻ hơn 15-20% so với một chiếc Kelly (Kelly là người chị em của Birkin, cũng không dễ gì đặt mua được, nhưng lại kém hơn Birkin một chút về độ nổi tiếng), một phần vì so với Hermes, “chúng ta là một chú lùn” như cách nói của Christina Zeller, Giám đốc Mỹ thuật của Delvaux.

Thương hiệu Birkin và Kelly cần phải đủ độ lớn để mọi người biết về chúng nhưng không được quá lớn khiến cho giá trị của chúng bị suy giảm. Như vậy, cảm nhận của một người về tính độc quyền của sản phẩm phụ thuộc vào một tỉ lệ: số người muốn một cái gì đó so với số lượng sẵn có để thỏa mãn nhu cầu đó.

Liệu Hermes có giữ được tỉ lệ này ở mức cao? Một phần quyền lực của Birkin nằm ở chỗ nó ra đời từ sự ăn may, không phải từ hoạt động tiếp thị. Hãy nghĩ lại cuộc gặp gỡ tình cờ trên máy bay giữa Dumas và Jane Birkin, rồi việc nữ minh tinh này than phiền về chiếc túi đi nghỉ cuối tuần của mình. Dumas khi đó muốn giúp Birkin giải quyết một vấn đề, chứ không phải ký một hợp đồng quảng cáo với người nổi tiếng. Như Zellar chỉ ra, có cả một kho chuyện để kể về Birkin và chiếc túi.

Việc Jane Birkin gần đây đe dọa rút tên cô khỏi dòng sản phẩm da cá sấu của chiếc túi Birkin sau những lời cáo buộc rằng một trang trại cung cấp da cho Hermes đã đối xử tệ với động vật cho thấy Công ty phải chịu ơn người đã mang lại “sự tích” cho thương hiệu Birkin, chứ không phải là ngược lại.

Nhưng vấn đề của sự ăn may là ăn may không phải “muốn là có được”. Hermes “không thể tạo ra một túi xác mang tính biểu tượng như thế trong 32 năm”, Mario Ortelli, chuyên gia thuộc hãng nghiên cứu Bernstein, chỉ ra. May lắm, Công ty có thể sống nương nhờ vào ánh hào quang bao quanh 2 nhãn hàng mà nó đang sở hữu. Nhưng chuyện này đang ngày càng trở nên khó khăn hơn. “Khi bạn thấy một người nổi tiếng nào đó bước ra khỏi chiếc SUV cầm trên tay một chiếc túi xách, nó đã lấy đi một phần nào đó vẻ bí hiểm”, Le Blanc nói. Cô lo ngại Birkin đang trở nên quá “lộ diện”. Tất cả các nhãn hàng xa xỉ lớn rất lo ngại về rủi ro này, nhưng ngay ở điểm này, nhãn hàng Birkin cũng “khác người”. Mối lo bị lộ diện quá mức không phải đến từ việc marketing quá xông xáo mà từ sự nhiệt tình của chính những người hâm mộ nó.

Hermes đã củng cố vị trí là thương hiệu mà ai cũng muốn có của ngành hàng xa xỉ khi chứng minh được rằng khách hàng sẵn sàng phớt lờ sự bất ổn gia tăng của nền kinh tế mà chịu bỏ ra hàng ngàn USD để mua những sản phẩm da của nó. Doanh số bán đã tăng 8,1% trong quý II năm nay (đã loại trừ yếu tố tỉ giá), theo Hermes, trong khi dự báo của giới phân tích là 5,6%. Biên lợi nhuận hoạt động 6 tháng đầu năm đã tăng thêm 1 điểm phần trăm nhờ các hợp đồng phòng ngừa rủi ro biến động tỉ giá.

Hermes đang gia tăng sản xuất đối với các túi xách da xa xỉ của mình mà thời gian đặt hàng chờ mua có thể kéo dài hơn 1 năm, trong khi nhiều đối thủ phải cắt giảm sản xuất. Burberry (Anh), chẳng hạn, đang cắt giảm danh mục sản phẩm tới 1/5 nhằm kích thích sức mua.

Nhu cầu đối với các túi xách Birkin và Kelly của Hermes, vốn có giá tới hơn 10.000 USD, vẫn cao, thậm chí khi chi tiêu vào hàng xa xỉ chậm lại. “Bộ phận sản phẩm da của Công ty vẫn sống tốt dù thị trường nói chung của ngành xa xỉ đang khó khăn”, Rogerio Fujimori, chuyên gia phân tích tại RBC Capital Markets, nhận xét.